- Trang chủ
- Sách y học
- Sinh lý y học
- Tiếng tim bình thường: nghe tim bằng ống nghe
Tiếng tim bình thường: nghe tim bằng ống nghe
Các vị trí để nghe tiếng tim không trực tiếp trên chính khu vực van của chúng. Khu vực của động mạch chủ là hướng lên dọc theo động mạch chủ, và khu vực của động mạch phổi là đi lên dọc theo động mạch phổi.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Khi nghe tiếng tim bình thường bằng ống nghe, ta nghe thấy bằng âm thanh mô tả như ‘’lub, dub, lub, dub’’. Tiếng “lub” được kết hợp với sự đóng của van nhĩ-thất (A-V) lúc bắt đầu thì tâm thu, và tiếng “dub” có liên quan đến sự đóng van bán nguyệt (van động mạch chủ và van động mạch phổi) ở cuối thì tâm thu. Tiếng “lub” được gọi là tiếng tim đầu tiên , và tiếng”dub” được goi là tiếng tim thứ 2, bởi vì chu kỳ bơm máu bình thường của tim được nhận định để bắt đầu khi van nhĩ-thất đóng lúc khởi phát chu kỳ tâm thất.
Tiếng tim đầu tiên là có liên quan tới sự đóng của van van nhĩ thất
Lời giải thích sớm nhất cho nguyên nhân tiếng tim là sự “va đập” lẫn nhau của lá van bắt đầu rung động. Tuy nhiên, sự đóng của các lá van chỉ ra phần nhỏ nguyên nhân, phần nhiều của âm thanh, gây ra bởi dòng máu giữa hiệu ứng “va đập” các lá van đệm vào nhau và chặn dòng máu. Thay vào đó, nguyên nhân của sự rung động các van căng ra lập tức sau khi đóng, cùng với sự rung động liền kề thành tim và mạch máu lớn trên tim. Đó là, trong việc tạo tiếng tim đầu tiên, đầu tiên sự co của thất tạo ra dòng máu chảy ngược chống lại van A-V, làm chúng phải đóng và lồi về phía tâm nhĩ đến khi các dây nối đột ngột dừng lại và phồng lên. Tình trạng đàn hồi tốt của dây chằng và các van sau đó gây ra tăng lượng máu chuyển trở lại một lần nữa vào mỗi thất tương ứng. Cơ chế máu làm máu và thành thất, cũng như các van căng, dẫn tới rung động và gây ra hỗn loạn rung động trong máu và tăng sự đối kháng để tâm thất đầy. Ví dụ, một tiếng tim thứ 4 thường hay nghe ở bệnh nhân lớn tuổi có phì đại thất trái.
Những sư rung động này đi xuyên qua các mô gần kề để tới thành ngực, nơi chúng có được nghe thấy bằng cách sử dụng ống nghe.
Tiếng tim thứ hai có liên quan với sự đóng của van động mạch chủ và van động mạch phổi
Kết quả của tiếng tim thứ hai là sự đóng đột ngột của các van bán nguyệt (ví dụ như van động mạch chủ và van động mạch phổi) ở cuối thì tâm thu. Khi van bán nguyệt đóng, chúng làm động đậy tâm thất theo hướng về sau và căng giật đàn hồi máu quay trở lại động mạch, điều này gây nên một âm vang ngắn của máu quay đi quay lại giữa các thành của động mạch và van bán nguyệt. Sự rung động này xuất hiện trong thành động mạch sau đó được truyền tải chủ yếu dọc theo động mạch. Khi sự rung động của mạch và tâm thất tiếp xúc với một “âm thanh va đập”, như thành ngực, chúng tạo âm thành có thể nghe được.
Thời gian và cường độ của tiếng tim thứ nhất và thứ hai
Thời gian của mỗi tiếng tim là khoảng trên 0.1 s một chút, với tiếng tim đầu khoảng 0.14s và thứ hai khoảng 0.11s. Lý do âm thứ hai thời gian nhỏ hơn âm thứ nhất vì van bán nguyệt cao hơn so với van nhĩ thất, vì thế chúng rung động một khoảng thời gian ngắn hơn so với van nhĩ-thất (van A-V).
Phạm vi tần số có thể nghe dược trong tiếng tim thứ nhất và thứ hai, được, bắt đầu ở mức tần số thấp nhất mà tai có thể phát hiện, vào khoảng 40 chu kỳ/s, và đi lên trên 50 chu kỳ/s. Khi thiết bị điện tử đặc biệt được sử dụng để ghi lại âm thanh ở những tần số và âm thanh phía dưới khoảng nghe thấy , bắt đầu thấp xuống tới 3 đến 4 chu kỳ /s và lên đỉnh ở khoảng 20 chu kỳ / s. Lý giải cho việc này, phần lớn tiếng tim có thể ghi lại thiết bị ghi tiếng tim điện tử mặc dù họ không thể nghe được bằng ống nghe thông thường.
Tiếng tim thứ hai bình thường có tần số cao hơn tiếng tim thứ nhất vì có hai lý do: (1) Độ cao của van bán nguyệt trong sự so sánh với mức thấp hơn của độ cao van A-V, và (2) Hệ số đàn hồi lớn hơn sự căng của động mạch mà cung cấp là chính.

Hình ảnh. Độ lớn khác biệt tần số sự rung động trong tiếng tim và tiếng thổi tim trong mối quan hệ tới ngưỡng co thể nghe được, thể hiện rằng khoảng âm thanh có thể nghe được là nằm giữa 40 đến 50 chu kỳ trên giây.
Sự rung động trong buồng tim, trong sự so sánh với ít lỏng lẻo hơn, buồng tâm thất ít đàn hồi hơn, điều đó cung cấp hệ thống rung cho tiếng tim đầu tiên. Nhà lâm sàng sử dụng những sự khác biệt này để phân biệt tính chất đặc biệt của hai âm thanh tương ứng.
Tiếng tim thứ ba xảy ra vào đầu của 1/3 giữa của tâm trương
Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng tim thứ ba yếu, ầm ầm vào đầu 1/3 giữa của tâm trương. Giải thích hợp lý nhưng chưa được chứng minh về âm thanh này là sự dao động của máu qua lại giữa các thành tâm thất được bắt đầu bằng cách đẩy máu từ tâm nhĩ. Điều này xảy ra tương tự như nước chảy từ vòi vào một bao giấy, nước xâm nhập dội qua lại giữa các thành để gây ra rung động cho thành. Lý do tiếng tim thứ ba không xảy ra cho đến 1/3 giữa của tâm trương được cho là trong phần đầu của tâm trương, tâm thất không được lấp đầy đủ để tạo ra một lượng nhỏ lực căng đàn hồi cần thiết cho âm vang. Tần số của âm thanh này thường thấp đến mức tai không thể nghe thấy, nhưng nó thường có thể được ghi lại bằng máy. Tiếng tim thứ ba có thể xuất hiện bình thường ở trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên nhưng thường chỉ ra suy tim tâm thu ở người lớn tuổi.
Âm thanh co bóp tâm nhĩ (tiếng tim thứ tư)
Đôi khi có thể ghi lại tiếng tim của tâm nhĩ trên máy, nhưng hầu như không bao giờ nghe được bằng ống nghe vì nó yếu và tần số rất thấp - thường là 20 chu kỳ / giây hoặc ít hơn. Âm thanh này xảy ra khi tâm nhĩ co bóp, và có lẽ là do máu chảy vào tâm thất, tạo ra những rung động tương tự như tiếng tim thứ ba. Tiếng tim thứ tư thường gặp từ sự co bóp của tâm nhĩ để làm đầy tâm thất do giảm giãn thành tâm thất và tăng sức kháng với sự đổ đầy tâm thất. Ví dụ, tiếng tim thứ tư thường được nghe thấy ở những bệnh nhân lớn tuổi bị phì đại thất trái.

Hình ảnh. Các khu vực lồng ngực mà tiếng tim nghe rõ nhất
Khu vực trên lồng ngực để nghe tiếng tim bình thường
Lắng nghe những âm thanh của tim, thường là với sự trợ giúp của ống nghe, được gọi là ống nghe tim thai. Hình cho thấy các khu vực của thành ngực mà tiếng van tim nghe khác biệt nhất. Mặc dù vậy âm thanh từ các van có thể nghe thấy ở các khu vực này, các bác sỹ tim mạch loại trừ các âm thanh từ các van khác nhau bằng một quá trình loại trừ. Đó là, di chuyển ống nghe từ vùng này sang vùng khác, chú ý độ to nhỏ của âm thanh trong các vị trí khác nhau và dần dần chọn ra thành phần âm thanh từ mỗi van.
Các vị trí để nghe tiếng tim khác nhau không trực tiếp trên chính khu vực van của chúng. Khu vực của động mạch chủ là hướng lên dọc theo động mạch chủ bởi sự truyền âm lên động mạch chủ, và khu vực của động mạch phổi là đi lên dọc theo động mạch phổi. Khu vực van ba lá trải dài trên tâm thất phải, và khu vực van hai lá trên khu vực của đỉnh của thất trái, đó là phần tim nằm gần thành ngực nhất. Tim được quay để các phần còn lại của tâm thất nằm ở phía sâu hơn.
Tâm thanh đồ
Một thiết bị âm thanh nhỏ được thiết kế đặc biệt để phát hiện âm thanh tần số thấp được đặt trên ngực, tiếng tim có thể được khuếch đại và ghi lại bởi một máy ghi tốc độ cao.
Việc ghi lại được gọi là tâm thanh đồ, và tiếng tim xuất hiện như những con sóng, như sơ đồ hình. Phần ghi âm A là một ví dụ về tiếng tim bình thường, được biểu ra những rung động tiếng tim thứ nhất, hai, và thứ ba và thậm chí cả âm thanh nhĩ rất yếu. Lưu ý đặc biệt rằng tiếng tim thứ ba và tiếng nhĩ co đều có một tiếng ầm thấp, tiếng tim thứ ba có thể được ghi lại ở khoảng một phần hai đến một phần ba dân số, và tiếng tâm nhĩ có lẽ ở khoảng một phần tư trong mọi người.

Hình. Máy ghi tiếng tim về tim bình thường và bất thường.
Bài viết cùng chuyên mục
Điện thế nghỉ của sợi thần kinh
Đặc điểm chức năng của bơm Na +-K + và của các kênh rò rỉ K +. ADP, adenosine diphosphate; ATP, adenosine triphosphate.
Hệ thần kinh trung ương: so sánh với máy tính
Trong các máy tính đơn giản, các tín hiệu đầu ra được điều khiển trực tiếp bởi các tín hiệu đầu vào, hoạt động theo cách tương tự như phản xạ đơn giản của tủy sống.
Tính chất cơ bản của Protein trong cơ thể
Thành phần chính của protein là các amino acid, phân tử protein được tạo thành từ nhiều chuỗi peptid hơn là từ một chuỗi duy nhất, và những chuỗi được liên kết với nhau bởi các liên kết khác nhau.
Chức năng thính giác của vỏ não: cơ chế thính giác trung ương
Mỗi neuron riêng lẻ trong vỏ não thính giác đáp ứng hẹp hơn nhiều so với neuron trong ốc tai và nhân chuyển tiếp ở thân não. Màng nền gần nền ốc tai được kích thích bởi mọi tần số âm thanh, và trong nhân ốc tai dải âm thanh giống vậy được tìm thấy.
Duy trì thăng bằng tĩnh: chức năng của soan nang và cầu nang
Khi cơ thể đột ngột bị đẩy mạnh ra trước - là khi cơ thể tăng tốc-đá tai, thứ có quán tính lớn hơn dịch xung quanh, đổ ra phía sau và chạm các nhung mao của tế bào có lông, và thông tin về sự mất thăng bằng được gửi về thần kinh trung ương.
Đơn vị đo độ khúc xạ của một thấu kính “Diopter”: nguyên lý quang học nhãn khoa
Mức độ bẻ cong các tia sáng của thấu kính được gọi là “độ khúc xạ”. Độ khúc xạ có đơn vị là diopter. Độ khúc xạ của một thấu kính bằng 1m chia cho tiêu cự của nó.
Dẫn truyền tín hiệu cường độ đau trong bó thần kinh: tổng hợp theo không gian và thời gian
Các mức khác nhau của cường độ có thể được truyền đi hoặc bằng việc sử dụng số lượng lớn hơn các sợi dẫn truyền song song hoặc bằng việc gửi đi nhiều điện thế hoạt động hơn dọc một theo sợi thần kinh.
Sự thay đổi nồng độ canxi và phosphate sinh lý ở dịch cơ thể không liên quan xương
Ở nồng độ canxi huyết tưong giảm một nửa, các thần kinh cơ ngoại biên trở nên dễ bị kích thích, trở nên co 1 cách tự nhiên,các xung động hình thành,sau đó lan truyền đến các thần kinh cơ ngoại biên gây ra hình ảnh co cơ cơn tetany điển hình.
Các chức năng sinh lý của gan
Gan tổng hợp acid béo từ glucid, protid và từ các sản phẩm thoái hóa của lipid, acid béo được chuyển hóa theo chu trình.
Trạm thần kinh: sự dẫn truyền và xử lý các tín hiệu
Hệ thần kinh trung ương bao gồm hàng nghìn đến hàng triệu trạm thần kinh; một số trạm chứa vài nơ-ron, trong khi những trạm khác chứa số lượng nơ-ron lớn.
Cơ thể cân đối kéo dài cuộc sống với thể thao
Cải thiện cơ thể cân đối cũng làm giảm nguy cơ một vài loại bệnh ung thư như ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, và ung thư đại tràng. Phần lớn các tác dụng có lợi của tập luyện có thể liên quan đến việc giảm béo phì.
Sinh lý nơ ron thần kinh
Thân nơ ron có chức năng dinh dưỡng cho nơ ron. Ngoài ra, thân nơ ron có thể là nơi phát sinh xung động thần kinh và cũng có thể là nơi tiếp nhận xung động thần kinh từ nơi khác truyền đến nơ ron.
Sự nhạy cảm quá mức của các cơ quan chịu sự chi phối của hệ giao cảm và phó giao cảm sau khi loại bỏ dây thần kinh
Nguyên nhân của sự nhạy cảm quá mức mới chỉ được biết một phần. Là số lượng các receptor trên màng sau synap của các tế bào đích đôi khi tăng lên vài lần ở vị trí noradrenalin hoặc acetylcholin không còn được giảI phóng vào các synap.
Cung lượng tim: đánh giá theo nguyên lý thay đổi nồng độ ô xy
Đo nồng độ oxy dòng máu tĩnh mạch được đo qua catheter đưa từ tĩnh mạch cánh tay, qua tĩnh mạch dưới đòn và vào tâm nhĩ phải,cuối cùng là tâm thất phải và động mạch phổi.
Synap thần kinh trung ương: synap hóa và synap điện
Sự dẫn truyền tín hiệu tại ở loại synap hóa học chỉ theo 1 chiều, từ sợi thần kinh tiết ra chất dẫn truyền (được gọi là sợi trước synap) đến sợi sau nó (được gọi là sợi sau synap).
Nhãn áp: sự điều tiết nhãn áp của mắt
Trong hầu hết các trường hợp của bệnh tăng nhãn áp, nguyên nhân chính gây nhãn áp cao bất thường là do tăng sức cản khi thoát thủy dịch qua khoảng trabecular vào kênh của Schlemm.
Synap thần kinh trung ương: giải phẫu sinh lý của synap
Nhiều nghiên cứu về synap cho thấy chúng có nhiều hình dáng giải phẫu khác nhau, nhưng hầu hết chúng nhìn như là cái nút bấm hình tròn hoặc hình bầu dục, do đó, nó hay được gọi là: cúc tận cùng, nút synap, hay mụn synap.
ACTH liên quan với hormon kích thích tế bào sắc tố, Lipotropin và Endorphin
Khi mức bài tiết ACTH cao, có thể xảy ra ở những người bệnh Addison, hình thành một số các hormon khác có nguồn gốc POMC cũng có thể được tăng.
Tăng huyết áp: gây ra bởi sự kết hợp của tăng tải khối lượng và co mạch
Tăng huyết áp di truyền tự phát đã được quan sát thấy ở một số chủng động vật, bao gồm các chủng chuột, thỏ và ít nhất một chủng chó.
Thị giác từ hai mắt: hợp nhất các hình ảnh
Sự tương tác diễn ra giữa các neuron ở vỏ não để kích thích can thiệp vào các neuron đặc hiệu khi hai hình ảnh thị giác không được “ghi nhận” - nghĩa là, không “hợp nhất” rõ ràng.
Sinh lý tuyến tuỵ nội tiết
Tụy nằm trong khung tá tràng, sau dạ dày. Trọng lượng 70-80g. Dài 10-18cm, cao 6cm, dày 1-3cm. Tụy nội tiết gồm những đảo Langerhans (gồm từ 1-2 triệu đảo), là những tế bào tụ thành từng đám, chiếm 1g tổ chức tụy, thường ở gần mạch máu.
Sự phát triển của hệ cơ quan thai nhi
Sự phát triển các tế bào trên mỗi cơ quan thường chưa được hoàn thiện và cần 5 tháng mang thai còn lại để phát triển hoàn toàn. Ngay cả lúc sinh, những cấu trúc nhất định, đặc biệt là hệ thần kinh, thận và gan, thiếu sự phát triển hoàn toàn, như được mô tả sau.
Hoạt động nhu động đẩy đi của đường tiêu hóa
Nhu động là một đặc tính cố hữu của nhiều ống cơ trơn hợp bào; kích thích tại bất cứ điểm nào tại ruột có thể tạo một vòng co cơ ở lớp cơ vòng sau đó di chuyển dọc theo ống ruột.
Cơ quan Corti: tầm quan trọng trong việc thu nhận âm thanh
Các thụ thể nhận cảm trong cơ quan Corti gồm 2 loại tế bào thần kinh được gọi là tế bào lông- một hàng tế bào lông ở trong, và 3 đến 4 hàng tế bào lông ở bên ngoài, gồm 12,000 tế bào có đường kính chỉ khoảng 8 micro mét.
Sự khuếch tán chống lại quá trình vận chuyển tích cực
Mặc dù có nhiều sự khác biệt của những cơ chế cơ bản, khuếch tán có nghĩa là sự di chuyển ngẫu nhiên của phân tử chất, cũng có thể vượt qua khoảng giữa các phân tử hoặc kết hợp với protein mang.
