Đau thắt ngực từng cơn: đánh giá triệu chứng đau ngực

2020-12-20 10:26 PM

Nhiều bệnh nhân không thể chẩn đoán chắc chắn. Đánh giá lại những bệnh nhân mà xét nghiệm không đi đến kết luận đau thắt ngực hoặc nguy cơ cao bệnh mạch vành nếu triệu chứng dai dẳng.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Điểm đau thắt ngực = 3 hoặc điểm đau thắt ngực = 2+ nguy cơ bệnh mạch vành cao/trung bình

Dấu hiệu của đau thắt ngực ổn định là sự tương ứng giữa triệu chứng và thay đổi công của tim. Cảm giác khó chịu ở ức đồng thời với gắng sức và giảm nhanh (< 5 phút) sau nghỉ ngơi, rất gợi ý đau thắt ngực. Tính chất của cảm giác khó chịu rất thay đổi và thường mơ hồ hoặc không đặc hiệu. Khả năng đau thắt ngực cũng phụ thuộc nguy cơ bệnh mạch vành. Hầu hết xơ vữa động mạch vành là yếu tố gây bệnh chủ yếu của đau thắt ngực, nên bệnh nhân có nguy cơ bệnh mạch vành thấp cũng có nguy cơ đau thắt ngực thấp.

Tính điểm đau thắt ngực dựa trên ba tiêu chuẩn, sau đó phân tầng nguy cơ chính của bệnh động mạch vành dựa trên tuổi, giới và yếu tố nguy cơ.

Nếu điểm đau thắt ngực = 3, đánh giá thêm đau thăt ngực bất chấp yếu tố nguy cơ.

Nếu điểm đau thắt ngực = 2, đánh giá thêm đau thắt ngực trừ khi nguy cơ bệnh mạch vành thấp.

Xem xét đánh giá thêm đau thắt ngực nếu bệnh nhân nguy cơ bệnh mạch vành cao mà tiền sử mơ hồ.

Tính chất của đau do thiếu máu cục bộ

Biểu hiện điểu hình của thiếu máu cơ tim là cảm giác khó chịu ở ức lan tỏa, lan lên cổ, hàm và vai trái (hoặc phải) và/hoặc tay và đau kiểu bị siết chặt, đè ép. Nó thường được mô tả là cảm giác khó chịu hơn là đau. Bệnh nhân thường minh họa bằng đặt bàn tay hay nắm tay lên giữa ngực.

Những cơn đau ngắt quãng của thiếu máu cơ tim không liên quan với gắng sức có thể xẩy ra khi tắt nghẽn mạch vành nặng vì vỡ mảng xơ vữa và tạo thành huyết khối (đau thắt ngực không ổn định), co thắt mạch vành (đau thắt ngực do co thắt mạch) hoặc nhịp nhanh kịch phát (đặc biệt có hẹp động mạch vành). Co thắt thực quản có thể gây ra triệu chứng gần giống cảm giác khó chịu do thiếu máu và cũng ít liên quan đến gắng sức.

Xem xét những chẩn đoán này ở những bệnh nhân có cảm giác khó chịu đặc trưng của thiếu máu mà thiếu sự liên quan với gắng sức hoặc (trừ đau thắt ngực không ổn định) ở những người mà trắc nghiệm gắng sức không chứng minh thuyết phục thiếu máu cơ tim.

Nghi ngờ đau thắt ngực không ổn định và chuyển bệnh nhân tới khoa tim mạch nếu có bất kỳ triệu chứng nào sau đây:

Triệu chứng mói hởi phát trong 2 tuần gần đây;

 Những cơn khó chịu trước đây liên quan với gắng sức nhưng giờ xảy ra cả lúc nghỉ ngơi;

Bất thường mới xuất hiện trên điện tâm đồ lúc nghĩ ngơi;

Nghi ngờ nhịp nhanh kịch phát nếu có bất kỳ biểu hiện nào sau đây:

Đánh trống ngực trước và trong lúc có triệu chứng;

Ghi nhận rối loạn nhịp nhanh trước đó;

Thời gian xảy ra triệu chứng ít thay đổi Nếu nghi ngờ, thử ghi nhận nhịp trong con có triệu chứng điển hình.

Nghi ngờ đau thắt ngực do co mạch nếu có bất kì biểu hiện nào dưới đây:

Không có yếu tố khởi phát rõ ràng;

Khởi phát đột ngột triệu chứng dữ dội ± biểu hiện thần kinh tự động;

Cơn ngắn (2-5 phút);

Những cơn xảy ra liên tiếp.

Nếu nghi ngờ, xem xét thử Holter điện tâm đồ để tìm kiếm bằng chứng ST chênh lên trong thời gian có triệu chứng.

Nghi ngờ co thắt thực quản nếu có bất kỳ biểu hiện nào dưới đây:

Khó nuốt từng cơn;

Tiền sử có triệu chứng điển hình của trào ngược dạ dày thược quản;

Khó chịu nổi trội vào buổi tối sau khi ăn Nếu tiền sử gợi ý trào ngược dạ dày thực quản, đánh giá lại sau khi cho bệnh nhân thuốc ức chế bơm proton, ngược lại, chuyển bệnh nhân đến khoa tiêu hóa để xem xét nội soi tiêu hóa trên/ đo áp lực thực quản.

Điểm triệu chứng đau thắt ngực

Khó chịu sau xương ức không kèm biểu hiện không điển hình(1): 1 điểm.

Khó chịu tăng lên khi gắng sức(2): 1 điểm.

Khó chịu giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng Glyceryl Trinitrat trong 5-10 phút: 1 điểm

(1) Những biểu hiện không điển hình gồm đau kiểu dao đâm, thay đổi đáng kể theo hô hấp hay tư thế; hoặc tính khu trú cao cỡ đầu mút ngón tay.

(2) Không tính điểm nếu cảm giác khó chịu chỉ thoáng qua, sau gắng sức nhưng không có trong lúc gắng sức, gây ra bởi những cử động/hành động đặc hiệu; hoặc không có mối liên quan phù hợp nào như xảy ra thường xuyên không cần bát kì kích thích nào.

Khó chịu sau xương ức kiểu: (a) nóng hoặc 3 bỏng rát, (b) giảm khi cho kháng acid hoặc (c) nặng lên bởi thức ăn/nằm xuống

Nếu đau không có khả năng do tim, tìm những biểu hiện diển hình của các rối loạn khác. Những biểu hiện gợi ý trào ngược dạ dày thực quản; triệu chứng đáp ứng với thuốc ức chế acid như ức chế bơm proton, hiệu quả này giúp xác nhận chẩn đoán.

Đau khu trú, gây ra bởi những cử động đặc hiệu hoặc sờ nắn

Đau cơ có thể biểu hiện bằng nhiều cách. Những biểu hiện trên mang tính gợi ý như chấn thương gần đây, kéo căng hoặc hoạt động mạnh hơn thường lệ. Xét nghiệm bổ sung hiếm khi càn thiết, triệu chứng đáp ứng với thuốc giảm đau thông thướng giúp xác nhận chẩn đoán.

Khò khè, thở hỗn hển, ho

Hen và bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính có thể làm khó việc phân biệt với đau thắt ngực trong bối cảnh lâm sàng mà triệu chứng nặng lên bởi gắng sức và tạo ra cảm giác như thắt ngực. Biểu hiện giúp ích cho chẩn đoán có thể gồm tiền sử ho và khò khè (đặc biệt là về đêm), triệu chứng thay đổi khi ban ngày, có khò khè lúc thăm khám, tiền sử dị ứng và không có yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành. Nếu nghi ngờ hen hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Đau nặng lên bởi stress/cảm xúc mạnh hoặc liên quan với biểu hiện giảm thông khí

Chẩn đoán những cơn đau ngực do lo lắng là một thách thức. Cảm xúc đau buồn làm tăng công của tim và có thể thúc đẩy đau thắt ngực, nhưng triệu chứng chỉ xảy ra trong bối cảnh này có khả năng cao hơn là do căn nguyên tâm lý. Những biểu hiện liên quan của hoảng sợ và tăng thông khí trong cơn như thở hỗ hển (không có khả năng lấy đủ khí) hoặc cảm giác nghẹt thở, râm ang đầu chi và hoa mắt, hỗ trợ chẩn đoán. Tìm sự giúp đỡ của chuyên gia trước khi quy một đau ngực mới xuất hiện là do lo lắng ở bệnh nhân nguy cơ cao bệnh mạch vành.

Đánh giá đau thắt ngực ở bệnh nhân nguy cơ cao bệnh mạch vành. Xem xét những nguyên nhân khác

Nhiều bệnh nhân không thể chẩn đoán chắc chắn. Đánh giá lại những bệnh nhân mà xét nghiệm không đi đến kết luận đau thắt ngực hoặc nguy cơ cao bệnh mạch vành nếu triệu chứng dai dẳng. Khi mà nguyên nhân do tim được loại trừ và không có một nhân khác rõ ràng, bệnh nhân thường đáp ứng với trấn an đơn thuần. Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân có triệu chứng nặng, kháng trị và có thể cần chuyên gia để đánh giá những yếu tố tâm lý bệnh dưới và/hoặc điều trị đau mạn tính.

Bài viết cùng chuyên mục

Lập luận chẩn đoán từ các dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng thu tương tự như các xét nghiệm, thông tin và kết quả thu được được đánh giá theo cùng một cách và tuân theo các quy tắc và tiêu chuẩn bằng chứng giống nhau.

Đánh trống ngực: đánh giá bệnh cảnh khi thăm khám

Nhiều bệnh nhân với đánh trống ngực mô tả nhịp tim mạnh và rõ hơn là nhanh, chậm hay bất thường. Điều này phản ánh tình trạng tăng thể tích tống máu như hở chủ, thiếu máu, dãn mạch, hoặc chỉ là chú ý đến nhịp tim.

Thở khò khè: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân gây thở khò khè phổ biến nhất ở mọi lứa tuổi là bệnh hen, và cần cố gắng loại trừ các nguyên nhân gây thở khò khè khác, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh.

Lách to: phân tích triệu chứng

Nhiều nguyên nhân gây lách to có thể được nhóm thành các loại sau: giải phẫu, huyết học, nhiễm trùng, miễn dịch, ung thư, thâm nhiễm và xung huyết.

Đau đầu: đánh giá các nguyên nhân thường gặp

Đau đầu là triệu chứng rất thường gặp và thường lành tính. Điều thách thức là phải nhận ra số ít bệnh nhân có bệnh lý nghiêm trọng hoặc cần điều trị đặc hiệu.

Phù chân: đánh giá suy thận và chức năng thận

Xác định và điều trị những nguyên nhân, theo dõi chức năng thận và thảo luận với đội chuyên khoa thận nếu như có bất kỳ sự tụt giảm mức lọc cầu thận thêm nữa.

Viêm da dị ứng (Eczema)

Sần sùi, mảng màu đỏ thường là không dày và phân định ranh giới riêng biệt của bệnh vẩy nến ảnh hưởng đến khuôn mặt, cổ và thân trên

Đau đầu: đánh giá triệu chứng lâm sàng biểu hiện màng não

Nhận diện bệnh nhân viêm màng não do vi khuẩn là ưu tiên hàng đầu cho phép điều trị kháng sinh nhanh chóng để cứu sống bệnh nhân. Bệnh nhân có thể thiếu các biểu hiện kinh điển nhưng hầu hết các trường hợp sẽ có ít nhất một biểu hiện.

Ù tai: phân tích triệu chứng

Bản thân ù tai không phải là bệnh mà là triệu chứng của một số quá trình đang diễn ra khác, bệnh lý hoặc lành tính, nhiều giả thuyết đã được đề xuất về cơ chế bệnh sinh.

Liệu pháp insulin trong điều trị đái tháo đường: tuýp 1 và tuýp 2

Liệu pháp insulin nền và liệu pháp insulin tích cực, cho bệnh nhân đái tháo đường không đạt mục tiêu đường huyết

Hồng ban đa dạng: phân tích triệu chứng

Hồng ban đa dạng thường bao gồm các hội chứng hồng ban đa dạng nhỏ (EM), hồng ban đa dạng lớn (EMM), hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử biểu bì nhiễm độc (TEN).

Sưng khớp: đánh giá các triệu chứng và nguyên nhân

Ở bệnh nhân trẻ tuổi không có tiền sử chấn thương, đã loại trừ được viêm khớp nhiễm khuẩn, sự xuất hiện của bất cứ triệu chứng nào sau đây là dấu hiệu gợi ý cao của viêm khớp phản ứng.

Mệt mỏi và Hội chứng mệt mỏi mãn tính

Acyclovir, globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch, nystatin, và liều thấp hydrocortisone, fludrocortisone không cải thiện triệu chứng

Suy tim sung huyết: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân của suy tim khác nhau tùy thuộc vào chức năng thất trái (phân suất tống máu thất trái giảm hoặc bảo tồn), bên trái hoặc bên phải, hoặc cấp tính hoặc mãn tính.

Suy giáp: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân phổ biến nhất của suy giáp nguyên phát là viêm tuyến giáp tự miễn, hoặc bệnh Hashimoto, là kết quả của sự phá hủy dần dần tuyến giáp bởi các tế bào T.

Đau ngực từng cơn: những lưu ý lâm sàng trong chẩn đoán

Phải loại trừ thuyên tắc phổi ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau kiểu màng phổi cấp tính và không có nguyên nhân nào khác rõ ràng. D-dimer âm tính cùng Wells score < 4 (đủ khả năng loại trừ chẩn đoán này).

Đau thắt lưng: phân tích bệnh cảnh lâm sàng

Thông qua tiền sử và thăm khám lâm sàng kèm theo chụp hình ảnh cột sống rất quan trọng để xác định xem bệnh nhân đau thắt lưng có bệnh học nghiêm trọng và/ hoặc có thể chữa trị được hay không.

Phát ban toàn thân cấp: đánh giá các triệu chứng lâm sàng

Nhập viện cho bất kỳ các bệnh nhân có tình trạng đỏ da nhiều, đánh giá và cần tiến hành hội chẩn da liễu ngay. Điều trị sau đó dựa vào chấn đoán chính xác và được hướng dẫn bởi đánh giá của chuyên gia da liễu.

Khó thở mạn tính: thang điểm khó thở và nguyên nhân thường gặp

Khó thở mạn tính được định nghĩa khi tình trạng khó thở kéo dài hơn 2 tuần. Sử dụng thang điểm khó thở MRC (hội đồng nghiên cứu y tế - Medical Research Council) để đánh giá độ nặng của khó thở.

Đánh trống ngực: nguyên nhân các loại rối loạn nhịp tim

Nguyên nhân gây nhịp nhanh, lo âu là nguyên nhân thường gặp nhất, với những bệnh nhân thường ghi nhận các đợt tim đập nhanh, đều, mạnh, bắt đầu và hồi phục trong vài phút.

Khám lâm sàng tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân dựa trên chiều cao và cân nặng được diễn giải bằng chỉ số khối cơ thể, là một chỉ số đáng tin cậy hơn về tình trạng béo phì so với các bảng chiều cao cân nặng.

Tiểu khó: phân tích triệu chứng

Chẩn đoán phổ biến nhất cho bệnh nhân mắc chứng khó tiểu là nhiễm trùng đường tiết niệu, mặc dù là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các triệu chứng khó tiểu, nhưng nhiều nguyên nhân khác cần được chẩn đoán chính xác.

Tăng bạch cầu ái toan: phân tích triệu chứng

Bạch cầu ái toan phát triển từ tiền chất myeloid trong tủy xương thông qua hoạt động của ít nhất ba cytokine tạo máu. Interleukin-5 (IL-5) đặc hiệu cho quá trình biệt hóa bạch cầu ái toan.

Tiết dịch âm đạo (khí hư): phân tích triệu chứng

Tiết dịch âm đạo có thể là sinh lý hoặc bệnh lý. Khi giải phẫu bệnh, người ta báo cáo rằng 90% phụ nữ bị ảnh hưởng mắc bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn, bệnh nấm candida âm hộ-âm đạo hoặc bệnh trichomonas.

Tiếng thổi tâm thu: phân tích triệu chứng khi nghe tim

Tiếng thổi tâm thu xảy ra trong giai đoạn co bóp của tim (tâm thu) xảy ra giữa S1, đóng van hai lá và van ba lá, và S2, đóng van động mạch chủ và động mạch phổi.