- Trang chủ
- Sách y học
- Bệnh học nhi khoa
- Bệnh học xuất huyết tiêu hóa ở trẻ em
Bệnh học xuất huyết tiêu hóa ở trẻ em
Tổn thương loét niêm mạc ống tiêu hoá là nguyên nhân phổ biến gây xuất huyết tiêu hoá; hiếm hơn là vỡ tĩnh mạch trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa và rất hiếm do dị tật bẩm sinh.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Xuất huyết tiêu hoá là một bệnh cảnh tiêu hoá thường gặp ở trẻ em. Bệnh có thể rất lành tính và thường tự khỏi nhưng cũng đôi khi cần phải cấp cứu kịp thời mới tránh được tử vong cho bệnh nhân, nguyên nhân của bệnh rất đa dạng và có liên quan mật thiết đến lứa tuổi xuất hiện bệnh. Phương tiện chẩn đoán nguyên nhân đôi lúc gặp nhiều khó lhăn và điều trị phụ thuộc phần lớn vào nguyên nhân gây bệnh
Đặc điểm chung
Tính chất máu
Số lượng có thể nhiều, có thể ẩn. Màu đỏ tưoi, đỏ sậm hay nâu, đen..
Hình thái xuất huyết
Nôn và đi cầu ra máu, có thể cấp hoặc mạn tính.
Vị trí xuất huyết
Có thể xảy ra bất kỳ nơi nào của ống tiêu hoá, khó xác minh vị trí trong một số trường hợp. Ruột non là nơi khó nhất và cũng là nơi ít xảy ra nhất. Khi xuất huyết xảy ra tại thực quản, dạ dày hay tại tá tràng thường gây nôn ra máu.
Các loại tổn thương gây xuất huyết tiêu hoá
Tổn thương loét niêm mạc ống tiêu hoá là nguyên nhân phổ biến gây xuất huyết tiêu hoá; hiếm hơn là vỡ tĩnh mạch trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa và rất hiếm do dị tật bẩm sinh.
Tầm quan trọng
Xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu liên quan đến cả nội nhi và ngoại khoa, lúc đầu có thể ít nhưng sau đó từ vài giờ đến vài ngày, có thể chảy máu dữ dội, tử vong nhanh chóng.
Nguyên nhân
Có nhiều cách phân loại nguyên nhân. Trong lĩnh vực nhi khoa, người ta thường phân loại nguyên nhân theo tổn thương và lứa tuổi.
Xuất huyết tiêu hoá do tổn thương tại đường tiêu hoá
Ở tuổi sơ sinh
Viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh .Bệnh thường xảy ra ở trẻ đẻ non, bị ngạt ở thời kỳ chu sinh, suy hô hấp, bệnh tim bẩm sinh hoặc cho ăn nhân tạo sớm hoặc ăn thức ăn có độ thẩm thấu cao như sữa bò. Bệnh do thiếu máu cục bộ ở ruột, do thiếu oxy, do thiếu nước nên làm tăng độ quánh của máu hoặc do nhiễm trùng nặng sẽ dẫn đến hoại tử ruột nhất là hồi tràng.Bệnh thường xảy ra trong tuần lễ đầu với các triệu chứng : bỏ bú, nôn trớ, chướng bụng, ỉa ra máu, hay kèm theo choáng. Bệnh thường tiến triển đến thủng ruột, viêm phúc mạc. X-quang có hình ảnh bóng hơi ở thành ruột, hoặc hình ảnh tắc ruột, ruột non dãn. Tỷ lệ tử vong cao 30 - 50%. Điều trị bao gồm hồi sức tuần hoàn hô hấp, kháng sinh, ngưng cho ăn bằng đường miệng, phẫu thuật nếu điều trị nội khoa thất bại. Để phòng bệnh thì ở trẻ đẻ non cần hạn chế đặt tỉnh mạch, động mạch rốn, hạn chế ngạt sau sinh, tránh ăn thức ăn có độ thẩm thấu cao; ăn nhanh, ăn nhiều, phòng hạ đường huyết, hạ thân nhiệt. Phòng nhiễm khuẩn, kháng sinh dự phòng không có hiệu quả.
U máu: Bệnh hiếm gặp, 50% có u máu ở da, 50% gặp ở ruột già. Biến chứng gồm xuất huyết tiêu hoá, lồng ruột.
Bệnh ruột gấp đôi: Bệnh hiếm gặp. Có 3 loại ruột đôi: khu trú, kèm theo bất thường cột sống và tuỷ sống, đại tràng đôi. Nguyên nhân chưa rõ. Biến chứng gồm thủng ruột, xuất huyết. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, X-quang, siêu âm, chụp bóng nhấp nháy bằng technetium.
Xuất huyết tiêu hoá ở trẻ dưới 2 tuổi
Viêm ruột non - ruột già cấp: Theo Tổ chức y tế thế giới nguyên nhân ở các nước đang phát triển gồm Shigella (chiếm 60% các trường hợp đi tiêu ra máu ở các nước đang phát triển) Campylobacter jejuni, Salmonella, và E. coli xâm nhập (EIEC).
Lồng ruột: Thường gây nên xuất huyết tiêu hoá ở trẻ em 6 - 9 tháng, hay gặp ở trẻ bụ bẫm, trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái, bệnh mắc cao vào mùa Xuân và Thu. Về dặc điểm lâm sàng: khóc thét từng cơn, sôi bụng, nôn mữa và muộn sẽ ỉa ra máu, sờ thấy búi lồng ở hạ sườn phải hoặc qua đến góc lách (nặng). Tiên lượng tử vong nếu không điều trị; tiên lượng tốt nếu tháo lồng trong 24 giờ đầu. Tái phát sau tháo lồng bằng barýt: 10%, sau mổ: 2-5%. Để chẩn đoán sớm cần hướng dẫn bà mẹ 3 dấu chứng chẩn đoán: Nôn, khóc thét, và đi ỉa ra máu.
Chảy máu túi thừa Meckel: 60% xuất huyết túi thừa Meckel gặp ở trẻ < 2 tuổi, xuất huyết thường gặp ở trẻ trai (3 /1). Trẻ ỉa ra máu rất nặng, phân đen và thường không đau bụng. Toàn thân có biểu hiện thiếu máu nặng, Hb có khi chỉ còn 3 - 4 g%. Ngoài ra người ta còn thấy loét ở ruột non, dạ dày. Túi thừa Meckel có thể gây lồng ruột, xoắn ruột hoặc tắc ruột.
U máu: Thường gặp ở trực tràng, hậu môn.
Vết nứt hậu môn :
Nứt hậu môn <=> Táo bón.
Đây là vòng luẩn quẩn gây nên bệnh cảnh nứt hậu môn. Điều trị bằng bôi chất nhờn ở hậu môn, ăn các loại thức ăn có tính nhuận tràng, chống táo bón hoặc ngâm vùng hậu môn bằng nước ấm.
Trĩ nội: Máu tươi dính theo phân và nhỏ giọt sau khi ỉa. Thăm trực tràng sẽ thấy tĩnh mạch trực tràng dãn và nổi ngoằn ngoèo thành từng búi, có máu ra theo tay. Trĩ hiếm gặp ở trẻ nhỏ.
Xuất huyết tiêu hoá ở trẻ trên 2 tuổi
Viêm dạ dày - ruột non - ruột già cấp : giống như ở trẻ dưới 2 tuổi.
Viêm ruột hoại tử ở trẻ lớn: Khác sơ sinh.
Loét dạ dày - tá tràng: Tỉ lệ hiện mắc: chưa rõ (3. 5 - 14. 5 /100. 000 dân trước khi có nội soi). Yếu tố thuận lợi gồm yếu tố gia đình, thuốc lá, nhóm máu O, khí hậu, ăn uống, stress, thuốc chống viêm, vi khuẩn H. pylori. Hiện nay, người ta chia loét dạ dày hành tá tràng gồm loét tiên phát do vi khuẩn H. pylori và loét thứ thứ phát do Stress, thuốc chống viêm. Chẩn đoán xác định bằng nội soi dạ dày và sinh thiết .Điều trị nội khoa gồm sử dụng ức chế bơm proton (như Omeperazole), kháng sinh, Ở trẻ em ít có chỉ định ngoại khoa.
Viêm hồi tràng từng vùng hay bệnh Crohn: Hiếm gặp ở trẻ em. Lứa tuổi mắc bệnh ở 10 tuổi và 50 tuổi. Bất kỳ vùng nào đều có thể bị viêm kể cả đại tràng hoặc manh tràng. Bệnh thường phát hiện muộn ở trẻ > 10 tuổi, chậm phát triển thể lực, da xanh, thiếu máu, sốt, biếng ăn, ỉa chảy mạn, đau bụng từng cơn và có thể ỉa ra máu nhưng không tìm ra vi khuẩn gây bệnh. Tiến triển kéo dài có thể dẫn đến bệnh cảnh áp-xe thành ruột, lỗ dò quanh hậu môn, bán tắc hoặc tắc ruột. Các biểu hiện ngoài ruột gồm viêm miệng áp tơ, viêm khớp, ban u, móng tay dùi trống, sỏi thận và sỏi mật.
Polype ruột: Polýp ruột hiện nay được phân thành 2 loại.
Polýp ruột già lành tính ( juvenile colonic polyp ) 60% có 2-3 polýp thường gặp ở trẻ 2 - 4 tuổi, hiếm khi > 15 tuổi. Bệnh nhân ỉa phân có máu tươi hoặc phân đen tái đi tái lại, không kèm đau bụng hoặc mót rặn. Khi soi trực tràng có thể thấy 1 hoặc nhiều polyp. Tiến triển có chiều hướng tốt, tự rụng khi trẻ lớn lên. Chẩn đoán dựa trên ỉa ra máu, thăm trực tràng, nội soi, siêu âm. Điều trị bằng cắt bỏ với nội soi.
Polýp có yếu tố gia đình như Hội chứng Puetz – Jeghers ( Đa polyp với các sắc tố ở miệng, tay hay chân..).
Trĩ: Như trẻ dưới 2 tuổi, thường do tăng áp lực tĩnh mạch cửa (cửa-chủ dưới).
Vỡ tĩnh mạch thực quản: Hội chứng Mallory - Weiss: Nôn nhiều do bất kỳ nguyên nhân gì làm rách các mạch máu ở dạ dày và thực quản gây chảy máu.
Thoát vị qua lỗ thực quản: Bệnh nhân có triệu chứng nôn ra máu và ỉa phân đen từng đợt.
Xuất huyết tiêu hoá là triệu chứng của bệnh toàn thân
Bệnh về máu
Tất cả các bệnh về máu đều có thể gây xuất huyết tiêu hoá và khi có xuất huyết tiêu hoá thì thường là nặng, giai đoạn cuối của bệnh : bệnh ưa chảy máu, bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh bạch cầu cấp.
Bệnh nhiễm trùng, siêu vi
Sốt xuất huyết, nhiễm trùng máu, thương hàn.
Bệnh về dị ứng
Viêm mao mạch dị ứng, hội chứng huyết tán tăng urê máu.
Bảng tóm tắt nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hoá ở trẻ em:
Trẻ nhỏ |
Trẻ lớn |
Thiếu niên |
Hay gặp Viêm ruột do vi khuẩn Dị ứng sữa Lồng ruột Nuốt phải máu mẹ Rách hậu môn |
Viêm ruột do vi khuẩn Vết nứt hậu môn Lồng ruột Polýp đại tràng HC. Mallory - Weiss Loét, viêm dạ dày |
Viêm ruột do vi khuẩn Bệnh viêm ruột Loét viêm dạ dày HC. Mallory - Weiss Polýp đại tràng |
Hiếm gặp Lồng ruột Viêm ruột non ruột già hoại tử Túi thừa Meckel Loét dạ dày Rối loạn về đông máu U máu |
Dãn tĩnh mạch thực quản Viêm thực quản Túi thừa Meckel Viêm mao mạch dị ứng Dị vật U máu HC. Huyết tán tăng urê máu Các bệnh viêm ruột |
Dãn tĩnh mạch thực quản Viêm thực quản |
Xử trí ban đầu trường hợp xuất huyết tiêu hoá
Mục tiêu
Xử trí ban đầu của xuất huyết tiêu hoá được thực hiện theo những mục tiêu sau:
Xác định có xuất huyết.
Xác định hiện đang xuất huyết.
Xác định vị trí xuất huyết.
Xem xét mối liên quan giữa bệnh sử và xuất huyết.
Lượng giá số lượng máu mất và phản ứng của cơ thể.
Tiến hành chuyền máu.
Xúc tiến các biện pháp cầm máu.
Xúc tiến sử dụng phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân xuất huyết.
Thực hiện
Thực hiện bao gồm các bước xử trí sau, thứ tự thực hiện các bước xử trí không nhất thiết phải theo thứ tự sau đây mà tuỳ theo tình trạng cấp cứu của bệnh mà áp dụng.
Bệnh sử
Nôn và đi ỉa ra máu.
Sử dụng các loại thuốc gây loét niêm mạc ruột như aspirin hay corticoid.
Bệnh lý kèm theo: Thường gia tăng mức độ trầm trọng của xuất huyết tiêu hoá như bệnh lý ở phổi, gan, thận, thần kinh.
Thăm khám lâm sàng
Ít khi có thể cho biết một cách chính xác nguyên nhân chảy máu.
Thăm khám trực tràng: Rất quan trọng không được bỏ sót.
Khám tìm dấu hiệu tư thế: Có giá trị để đánh giá mất máu. Dấu này được phát hiện bằng cách để bệnh từ tư thế nằm ngửa sang tư thế ngồi, mạch bệnh nhân sẽ tăng trên 20/phút và huyết áp giảm hơn 10mmHg.
Bồi phụ nước, điện giải và máu
Thiết lập ngay một đường truyền tĩnh mạch ngoại biên với kim lớn.
Truyền dịch và máu: Trước khi truyền máu phải truyền ngay dung dịch nước muối sinh lý.
Thiết lập một đường truyền tĩnh mạch trung tâm: Rất cần thiết để đánh giá hiệu quả của việc bù dịch.
Theo dõi lưu lượng nước tiểu : có giá trị cho biết sự tưới máu các cơ quan sinh tồn.
Cận lâm sàng
Xét nghiệm máu: Nhóm máu, công thức máu, đo thời gian prothrombin. Các chất điện giải, creatinine, urê, glucose. Hb và Hct thường thấp và có tỷ lệ với lượng máu mất đi. Trong trường hợp bệnh nhân mất máu quá nhanh nên Hb và Hct có thể bình thường hay giảm hơn bình thường một ít.
Theo dõi các xét nghiệm: Điện giải đồ và công thức máu nên làm thường xuyên.
Đặt một ống thông mũi - dạ dày và rửa dạ dày
Lợi ích của việc đặt ống thông mũi dạ dày:
Cho biết có hay không có máu trong dạ dày.
Theo dõi được tốc độ xuất huyết.
Cho biết xuất huyết tái diễn sau lần cầm máu đầu tiên.
Rửa và làm xẹp dạ dày.
Hút được axít dạ dày.
Bất lợi của đặt ống thông mũi dạ dày:
Bệnh nhân khó chịu.
Dễ gây trào ngược dạ dày thực quản và sặc vào phổi.
Gây kích thích niêm mạc thực quản dạ dày và có thể làm trầm trọng thêm tổn thương sẵn có.
Hội chẩn
Cần có ý kiến của khoa X-quang, khoa ngoại đặc biệt khoa ngoại trong giai đoạn đầu vì sẽ có quyết định can thiệp ngoại khoa ngay.
Chẩn đoán và xử trí
Nội soi:
Chẩn đoán nhờ nội soi.
Điều trị nhờ nội soi: Có thể qua nội soi, điều trị cầm chảy máu bằng đốt nhiệt bằng tia laser hay tiêm ethanol hay dung dịch ưu trương. Ngày nay người ta bơm adrrenaline vào dạ dày để cầm máu. Biện pháp này có hiệu quả cao và ít gây nguy hiểm.
Chụp bóng nhấp nháy.
Chụp bóng có chọn lọc:
Chụp bóng động mạch thân chung, mạc treo trên, mạc treo dưới cho phép phát hiện chỗ chảy máu và đồng thời điều trị. Tuy nhiên áp dụng kỹ thuật này cần thận trọng vì có thể gây nguy hiểm.
Chụp bóng bằng baryte phần trên ruột hay baryte trực tràng: Ít có giá trị so với nội soi. Ngoài ra chất baryte đọng trong thực quản hay dạ dày có thể làm cản trở việc đánh giá niêm mạc bằng nội soi hay bằng chụp bóng động mạch.
Trường hợp đặc biệt
Giãn tĩnh mạch thực quản: Có một sự khác biệt về điều trị dãn tĩnh mach thực so với điều trị các loại xuất huyết cao khác, vì ở đây có kèm theo bệnh lý ở gan với tình trạng suy dinh dưỡng, rối loạn đông máu, và bệnh não Điều trị đầu tiên: Bao gồm nội soi và bơm thuốc gây xơ teo dãn tĩnh mạch. Sau đó chèn ép dãn tĩnh mạch bằng ống Sengstaken - Blakemore: Đây là một ống có 3 nòng với mục đích bơm được hơi để làm căng ống gây chèn ép tĩnh mạch, đồng thời cho phép hút được dịch dạ dày. Tuy vậy việc đặt ống Sengstaken Blakemore có thể gây một số biến chứng nhu gây tắt đường thở, sặc chất xuất tiết vào phổi, gây hoại tử niêm mạc thực quản do lưu ống quá lâu gây chèn ép.
HC. Mallory - Weiss: Đây là một hội chứng do giãn quá mạnh gây rách phần niêm mạc và hạ niêm mạc và gây nôn ra máu. Chẩn đoán nhờ nội soi để phân biệt với tất cả nguyên nhân chảy máu khác ở dạ dày. Ở trẻ em, bệnh tự khỏi và điều trị gồm thay thế số lượng máu mất là đủ.
Bài viết cùng chuyên mục
Viêm khớp mủ ở trẻ em
Viêm mủ khớp là hậu quả của viêm xương tuỷ xương mà vùng hành xương nằm trong bao khớp hoặc có thể ổ viêm xương phá vỡ tổ chức khớp đưa mủ vào trong khớp.
Viêm tai giữa cấp ở trẻ em
Trong viêm tai giữa cấp ở trẻ em, viêm tai giữa tiết dịch kéo dài nếu không điều trị đúng sẽ gây các di chứng nặng nề trên tai giữa và làm suy giảm chức năng nghe.
Bệnh học sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em
Có 4 type huyết thanh ký hiệu DEN. 1, DEN. 2, DEN. 3, DEN. 4 mà về tính kháng nguyên thì rất gần nhau. Sau một giai đoạn ủ bệnh 4 - 6 ngày, virus hiện diện trong máu.
Thiếu máu tan máu tự miễn ở trẻ em
Bệnh thường xảy ra phối hợp với một số bệnh nhiễm khuẩn như viêm gan, viêm phổi do vius, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, hoặc trên cơ sở bị một số bệnh như U lympho Hodgkin, Lupus ban đỏ, hội chứng suy giảm miễn dịch.
Phì đại tuyến hung ở trẻ em
Tuyến hung phì đại hay gặp nhất ở các trường hợp trung thất có khối mà không phải do hạch. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, hiếm gặp ở trẻ trên 4 tuổi.
Bệnh học hội chứng cầu thận cấp ở trẻ em
Viêm cầu thận cấp không chỉ là một bệnh thông thường mà là một hội chứng gọi là Hội chứng cầu thận cấp. Bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, nguyên nhân phát sinh không chỉ do liên cầu mà còn do Tụ cầu, Phế cầu, Vi rút.
Viêm tủy cắt ngang ở trẻ em
Viêm tuỷ cắt ngang là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi thương tổn cấp tính một đoạn tuỷ sống, biểu hiện liệt vận động, mất cảm giác dưới nơi tổn thương, rối loạn cơ tròn.
Chăm sóc trẻ bị viêm phổi nặng
Viêm phổi là bệnh thường gặp ở trẻ em và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới một tuổi, trẻ sơ sinh và suy dinh dưỡng.
Viêm thanh quản cấp ở trẻ em
Viêm thanh quản cấp thường do virut Para - influenza, hay xảy ra ở trẻ từ 6 tháng - 3 tuổi, vào mùa đông. Cho ăn chất dễ tiêu (sữa, cháo, ăn nhiều bữa). Nếu bệnh nhân không ăn phải cho ăn bằng sonde. Luôn có người ở cạnh bệnh nhân. Khi có nôn phải nhanh chóng hút và làm thông đường thở.
Thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em
Thiếu máu thiếu sắt có đặc điểm là thiếu máu nhược sắc, sắt và Ferritin huyết thanh giảm. Thiếu máu thiếu sắt rất phổ biến và là thiếu máu dinh dưỡng chủ yếu ở trẻ em.
Bệnh học đau bụng ở trẻ em
Có thể phát hiện dấu hiệu viêm hạch mạc treo, búi lồng, hay hình ảnh ruột thừa viêm hay dịch tự do hay khu trú trong ổ bụng hay hình ảnh giun ở đường mật, đường tụy..
Bệnh học HIV AIDS ở trẻ em
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh do HIV là các biểu hiện của nhiễm trùng cơ hội và các bệnh u. Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi ở nhiều cơ quan, dễ nhầm với nhiều bệnh.
Sốt cao gây co giật ở trẻ em
Co giật do sốt xảy ra khoảng 3% trẻ em. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi sơ sinh và trẻ nhỏ, từ 3 tháng đến 5 tuổi. Bệnh liên quan đến sốt nhưng không có bằng chứng của nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương.
Chẩn đoán và xử trí co giật ở trẻ em
Ở trẻ em, vì nguyên nhân gây co giật rất phong phú nên hình thái lâm sàng cũng rất đa dạng, do đó người thầy thuốc phải nắm vững cơ chế bệnh sinh, cách phân loại.
Đặc điểm hệ tuần hoàn trẻ em
Tim của trẻ sơ sinh tương đối to hơn so với trẻ lớn và chiếm 0,8% trọng lượng cơ thể. Sau 1 tuổi, sự phát triển của tim tỷ lê thuận với sự phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ và chiếm 0,5% trọng lượng cơ thể.
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu
Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một chiến lược hay một giải pháp nhấn mạnh tới sự phát triển phổ câp các dịch vụ y tế. Các dịch vụ này người dân chấp nhân được
Bệnh học nôn trớ ở trẻ em
Nôn trớ là sự bắn tung mạnh mẽ những chất chứa trong dạ dày ra ngoài do co bóp của cơ hoành, cơ bụng và cơ trơn của dạ dày. Ợ là một hiện tượng mà một lượng nhỏ thức ăn từ dạ dày được bắn ra ngoài do sự co bóp của thành dạ dày.
Đặc điểm hệ tiêu hoá trẻ em
Ở trẻ sơ sinh, thường thấy những hạt màu trắng hoặc vàng nhạt, to gần bằng hạt đỗ xanh, mật độ cứng, nằm dọc hai bên đường giữa vòm miệng.
Thoát vị màng não tủy ở trẻ em
Thoát vị màng não tuỷ là do khuyết cung sau rộng làm cho ống sống thông với phần mềm ngoài ống sống, qua đó màng cứng tuỷ dễ dàng phình ra và tạo thành túi thoát vị.
Bệnh học bạch hầu
Người là ổ chứa của vi khuẩn bạch hầu. Bệnh lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang trùng bởi các chất tiết đường hô hấp.
Viêm đa rễ và dây thần kinh ngoại biên ở trẻ em
Liệt có tính chất đối xứng, liệt ngọn chi nhiều hơn gốc chi, có nhiều trường hợp liệt đồng đều gốc chi như ngọn chi. Liệt có thể lan lên 2 chi trên, liệt các dây thần kinh sọ não IX, X, XI.
Chăm sóc trẻ bị bệnh thấp tim
Không phải bất kỳ trẻ em nào nhiễm liên cầu trùng beta tan huyết nhóm A cũng bị bệnh thấp tim. Trong số 90-95% trẻ em bị viêm họng do liên cầu, chỉ có 0,2 -3% trẻ bị thấp tim.
Chăm sóc trẻ bị bệnh tiêu chảy cấp
Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh.
Đục thủy tinh thể bẩm sinh
Đục thủy tinh thể bẩm sinh là đám mây trong thấu kính của mắt có từ lúc sinh. Thông thường thấu kính của mắt là 1 cấu trúc trong suốt, nó tập trung ánh sáng nhận được từ mắt tới võng mạc.
Sự phát triển về thể chất của trẻ em
Để đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ em, có thể dựa vào việc theo dõi sự phát triển về cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và tỷ lệ giữa các phần của cơ thể.